Văn miếu Xích Đằng
Văn Miếu Xích Đằng – Hưng Yên, 1 trong 6 văn miếu thuộc hàng tỉnh tiêu biểu còn lại của nước ta nằm trong quần thể khu di tích quốc gia đặc biệt Phố Hiến. Đây là nơi tập trung toàn bộ những tinh hoa của con người Hưng Yên.
Văn Miếu Hưng Yên hay còn gọi là Văn Miếu Xích Đằng do tọa lạc trên tổ dân phố Xích Đằng, phường Sơn Nam, tỉnh Hưng Yên. Xích Đằng theo chữ Hán tự có nghĩa là Mây đỏ. Ven đê sông Hồng trước đây, vùng đất này có trồng nhiều bụi mây thân đỏ nên sau đó có tên là Xích Đằng.
Văn Miếu được khởi dựng từ thời Hậu Lê và được trùng tu vào năm Minh Mạng thứ 20 năm 1839. Tương truyền, Văn Miếu được xây dựng lại trên nền của ngôi chùa Nguyệt Đường hay còn gọi là chùa 36 nóc do Hương Hải thiền sư khởi dựng vào năm 1701 cùng với sự giúp đỡ của Quận Công Lê Đình Kiên – trấn thủ trấn Sơn Nam xưa. Qua quá trình chiến tranh thì ngôi chùa không còn nữa, dấu tích còn sót lại là 2 tòa tháp đá Phương Trượng Tháp và Tịnh Mãn Tháp.
Từ ngoài nhìn vào, Đây là công trình kiến trúc còn được giữ tương đối nguyên vẹn từ năm 1839 cho đến nay. Và tam quan của Văn Miếu chính là biểu tượng cho tỉnh Hưng Yên cũng như Khuê Văn Các là biểu tượng cho Hà Nội. Tam quan có kiến trúc chồng diêm 2 tầng 8 mái, 2 tầng tượng trưng cho lưỡng nghi, 4 phía xung quanh tượng trưng cho tứ tượng, 8 mái trượng trưng cho bát quái và bát quái thì sinh vạn vật, vạn vật sinh sôi nảy nở. Đây là ước vọng ngàn đời của cư dân nông nghiệp mong muốn có cuộc sống ấm no hạnh phúc. Khi xưa, khi đứng ở trên tầng thứ 2 của tam quan thì có thể nhìn được toàn bộ khung cảnh địa lý của Phố Hiến xưa đấy ạ.
Tiếp đến là khoảng sân, xưa là nơi diễn ra các kì thi hương sau đó các sĩ tử đỗ đạt sẽ lên kinh thành Thăng Long để thi hội, thi đình để chọn ra các chức danh như Trạng Nguyên, Bạt Nhãn, Hoàng Gíap ,Thám Hoa, Tiến Sĩ, Phó Bảng. Và tại khoảng sân đây, xưa kia các sĩ tử ngồi 4 ô vuông, giữa sân là hình chữ thập, giữa hình chữ thập là cái chòi tre rất cao, giám khảo sẽ ngồi trên chòi tre đó và quan sát các thí sinh làm bài thi xem có hiện tượng quay cóp bài hay không. Và tại đây được truyền bài thơ rất hay nói về cảnh đi thi và tâm trạng của người đỗ đạc, bài thơ có nội dung là:
“Vẻ vang thi đậu ngỡ lên tiên
Khúc hát gió đưa tựa Thánh hiền
Sách cũ còn ghi khoa tiến sĩ
Bia nay mới tạc vẻ HưngYên
Tên họ mãi còn cùng non nước
Văn chương sáng tựa ánh hào quang
Bia đá trước đền xem phải kính
Hợp cục bia biện tiếng vang truyền.”
Hai bên sân có để 2 cổ vật có giá trị được làm vào năm Gia Long Tam Niên năm 1803-1804 đó là chuông đồng và khánh đá.
Tiếp đến là 2 dãy tả vu, hữu vu. Mỗi dãy 5 gian, xưa là nơi các quan để cỗ kiệu và sửa soạn mũ áo trước khi vào lễ Thánh Khổng Tử. Ngày nay đây là nơi trưng bày những thành tựu của nền giáo dục Hưng Yên qua từng thời kỳ.
Văn Miếu có kiến trúc theo kiểu chữ Tam gồm có 3 tòa: tiền tế, trung từ và hậu cung.
Tại tòa Trung từ, trung tâm được đặt ban thờ và tượng thờ thầy giáo Chu Văn An – nhà sư phạm tài năng đức độ dưới thời Trần. Ông sinh năm 1292 tại làng Thanh Liệt, nay thuộc Thanh Trì- Hà Nội. Ông đỗ tiến sĩ ngay đầu thời Trần nhưng không ra làm quan mà ở quê mở trường dạy học và chữa bệnh cho nhân dân nghèo. Với tài năng và đức độ của mình, ông được vua Trần Minh Tông vời giữ chức tư nghiệp trường Quốc Tử Giám tương đương với chức hiệu trưởng của 1 trường đại học ngày nay. Sau đó ông có Thất Trảm Sớ để chém đầu 7 tên quan gian thần nhưng nhà vua không đồng ý. Sau đó ông đã xin cáo quan về núi Phượng Hoàng, Chí Linh – Hải Dương dạy học và mất tại đó vào năm 1370. Sau khi ông mất triều đình vô cùng thương sót ông đã ban hiệu cho ông là Khang Tiết tiên sinh và đưa ông về văn miếu phối thờ với Khổng Tử. Thầy giáo Chu Văn An chính là tấm gương sáng về lòng yêu nước, thương dân.
Tiếp theo là toà Hậu cung. Và tại gian trung tâm được đặt ban thờ và tượng thờ của Đức Thánh Khổng Tử_người được mệnh danh là Vạn Thế Sư Biểu (tức là người thầy tiêu biểu cho muôn đời). Ông là ông tổ của đạo Nho, người sáng lập ra Nho giáo. Đây là một đạo giáo không chỉ ảnh hưởng đến Trung Hoa có ảnh hưởng tới các nước láng giềng trong đó có nước Việt Nam ta. Nho giáo hay còn được gọi là đạo Nho hoặc đạo Khổng, là một hệ thống đạo đức, triết học xã hội, giáo dục, chính trị với mục đích tạo dựng một xã hội tốt đẹp với những con người có đạo đức và lễ nghi chuẩn mực từ đó tạo thành nền móng vững chắc để phát triển đất nước.
Cùng phối thờ với Đức Thánh Khổng Tử là 2 ban thờ của Tứ Phối (tức là 4 vị học trò của Khổng Tử) trong đó có Mạnh Tử, Tử Tư, Nhan Uyên và Tăng Sâm. Sau đây, kính mời quý đoàn làm lễ trước ban thờ Khổng Tử và 4 vị học trò của ngài.
Hiện nay, Văn Miếu Xích Đằng còn lưu giữ được 1 hiện vật vô cùng quý giá đó chính là 9 tấm bia đá dựng hai bên tòa chính. Có 8 tấm bia được dựng vào năm Đồng Khánh thứ 3 năm 1888 và tấm bia thứ 9 được dựng vào năm Bảo Đại thứ 18 năm 1943. 9 tấm bia đá đây ghi danh tên, tuổi, quê quán, chức vụ của 161 vị đại khoa trong tổng số 228 vị khoa bảng của tỉnh Hưng Yên.
Trong thời kì phong kiến cả nước ta tuyển chọn được 2898 vị thì Hưng Yên có 228 vị chiếm khoảng 1 phần 10 của cả nước và là tỉnh đứng thứ 4 cả nước về những người đỗ đạt. Như vậy có thể thấy rằng Hưng Yên là tỉnh có truyền thống hiếu học từ lâu đời.
Truyền thống này thể hiện rõ trong các gia đình dòng họ và các làng khoa bảng. Như ở quê hương Văn Giang có tới 51 vị khoa bảng, Ân Thi có tới 41 vị, Yên Mỹ có tới 34 vị. Các dòng họ tiêu biểu như dòng họ Lê ở Liêu Xá, Yên Mỹ có 7 cha con ông cháu đỗ Tiến Sĩ; dòng họ Dương ở Lạc Đạo, Văn Lâm có 9 vị đỗ Tiến Sĩ.
Trên 9 tấm bia đá của Văn Miếu Xích Đằng ghi danh rất nhiều các vị khoa bảng như: ông Lê Như Hổ (ông làm chức quận công triều Mạc), ông Nguyễn Trung Ngạn (ông là người Thổ Hoàng_Ân Thi, ông làm chức tể tướng thời Trần), ông Chu Mạnh Trinh là quan án sát tỉnh Hưng Yên … Và cả tỉnh Hưng Yên xưa kia có 7 vị Trạng Nguyên như: Tống Trân, Hồ Tông Thốc, Nguyễn Tư là 3 vị trạng nguyên thời Trần; Dương Phúc Tư, Giáp Hải, Đỗ Tông, Nguyễn Kỳ là những trạng nguyên thời Lê. Xin giới thiệu với quý đoàn đây là tấm bia thứ 7 là tấm bia tiêu biểu của Văn Miếu Xích Đằng. Trên tấm bia thứ 7 có ghi danh 2 cha con nhà bác học Lê Qúy Đôn, cha ông là ông Lê Trọng Thứ. Lê Quý Đôn là một nhà bác học có kiến thức hết sức uyên bác và đa dạng. Ngoài ra, ông còn là một nhà chính trị quan tâm đến nhân dân, gần gũi nhân dân, và hiểu những mong muốn của nhân dân. Ông đã để lại cho hậu thế 40 bộ, lên đến hàng trăm tác phẩm nhưng có 1 số đã bị thất lạc. Và sổ sách đã ghi lai rằng nhà bác học Lê Qúy Đôn sinh tại làng Diên Hà, huyện Diên Hà, trấn Sơn Nam; nay là thôn Đồng Phú thuộc xã Độc Lập, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình và ông từng dự kì thi hương tại văn miếu Xích Đằng nên tên của ông vẫn được khắc trên tấm bia đá tại đây.
Văn miếu Xích Đằng tỉnh Hưng Yên, hằng năm vào mùng 4, mùng 5 tết Nguyên Đán thường tổ chức 1 số hoạt động có ý nghĩa như: hát ca trù, cho chữ đầu xuân, triển lãm thư pháp thu hút đông đảo học sinh tham gia. Và đặc biệt, Văn Miếu Xích Đằng còn thu hút lượng khách về đây rất đông để cầu mong cho con cái của mình học hành đỗ đạc thành danh và phát triển trên con đường công danh sự nghiệp. Ngoài ra trong năm tại đây còn tổ chức 1 số hội khuyến học trao thưởng cho các học sinh nghèo, học sinh giỏi trên địa bàn tỉnh.
