Đền Mây
Đền Mây, một trong những di tích thuộc quần thể khu di tích quốc gia đặc biệt Phố Hiến. Đền Mây tọa lạc tại tổ dân phố Đằng Châu, phường Sơn Nam, tỉnh Hưng Yên. Đền được xây dựng gần bến Lảnh, còn gọi là Bến đò Mây. Vì phong cảnh rất nên thơ, trữ tình nên đã đi vào câu ca: “Trăm cảnh, nghìn cảnh không bằng bến Lảnh đò Mây”. Trong tiếng Hán, chữ Đằng cũng có nghĩa là Mây.
Đền là nơi tôn thờ tướng quân Phạm Bạch Hổ - 1 vị tướng tài ba của dân tộc ta trong thời kì đầu xây dựng nền độc lập tự chủ.
Phạm Bạch Hổ tức Phạm Phòng Át. Ông sinh ngày 10 tháng 1 năm 910, xuất thân trong 1 gia đình nông dân – thương gia tại Đằng Châu. Cha là Phạm Lệnh Công, người gốc Kim Thành – Hải Dương. Tương truyền, mẹ ông nằm mộng thấy Sơn Tinh và Hổ Trắng mà có thai nên sau khi sinh đặt tên cho ông là Bạch Hổ.
Ngay từ nhỏ, Phạm Bạch Hổ đã nổi tiếng ham học, có tư chất thông minh, tính tình nóng nảy nhưng hết sức cương trực. Lớn lên ông có thân hình vạm vỡ, mạnh mẽ, văn võ toàn tài, giỏi về sông nước. Theo sử sách ghi lại, ông từng làm Hào trưởng đất Đằng Châu. Năm 930, khi mới 20 tuổi, ông đã tìm vào xứ Thanh xin đầu quân và sớm trở thành tướng tài của Dương Đình Nghệ.
Phạm Bạch Hổ là người đã phá bỏ định kiến tôi trung không thờ 2 Chúa vốn được dùng để vinh danh những trung thần. Ông không chỉ thờ 2 Chúa mà còn liên tiếp phò tá 3 đời Minh Quân chống lại quân xâm lược. Ông đã góp sức mình vào cuộc chiến giành lại nền độc lập tự chủ dân tộc của Đức Ngô Vương, đầu quân cho Vua Đinh để dẹp loạn 12 sứ quân và dù đã lớn tuổi nhưng ông vẫn cống hiến hết sức mình vào cuộc chiến chống lại quân xâm lược của Vua Lê Đại Hành. Và chắc hẳn Phạm Bạch Hổ phải là 1 vị tướng yêu nước thương dân cao độ thì mới được 3 vị Minh Quân tin dùng đến vậy.
Năm 937, Kiều Công Tiễn giết hại Dương Đình Nghệ để đoạt chức Tiết Đậu Xứ. Trước nguy cơ thù trong giặc ngoài, Phạm Bạch Hổ đã đầu quân cho Ngô Quyền và tiêu diệt Kiều Công Tiễn.
Năm 938, ông còn giúp Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng.
Khi Ngô Quyền xưng vương, đóng quân tại đất Hoa Lư. Ông lui về Đằng Châu để bảo vệ an ninh cho vùng này. Ngoài ra, ông còn giúp dân khai khẩn đất hoang, mở mang đồng đất cấy trồng làm cho dân trong vùng được ấm no. Khi Hậu Ngô vương mất, các hào kiệt nổi lên cát cứ từng vùng. Tướng quân Phạm Bạch Hổ chiếm giữ Đằng Châu và là 1 trong 12 sứ quân thời đó.
Vào năm 968, sau khi Đinh Bộ Lĩnh đánh dẹp các sứ quân, Phạm Bạch Hổ nhận ra đây là sức mạnh chính nghĩa thống nhất đất nước nên ông đã quy thuận vua Đinh. Do có công lao to lớn trong sự nghiệp cứu giúp đất nước, ông được vua Đinh phong làm Thân Vệ Đại Tướng Quân.
Sau khi vua Đinh mất, thiếu đế nhà Đinh còn nhỏ tuổi, nhà Tống lại lăm le xâm lược nước ta. Một số quan văn, võ trong triều trong đó có Phạm Bạch Hổ đã suy tôn Thập đạo tướng quân Lê Hoàn lên làm vua. Năm 980, Lê Hoàn đánh tan quân Tống, ông xin được góp sức khi đã 70 tuổi và được vua Lê phong là Đằng Vương tức là Vua Mây.
Tướng quân Phạm Bạch Hổ mất ngày 16 tháng 11 năm 983 tại doanh trại Đằng Châu, hưởng thọ 73 tuổi. Sau khi ông mất, được vua Lê sắc cho dân lập đền thờ tại quân doanh và tôn ông làm Thành Hoàng Làng.
Tương truyền, đền Mây được khởi dựng từ rất sớm trên Dinh Lũy của ông với quy mô lớn gồm có khi thờ chính, nhà Đông Biên, Tây Biên, Tam Quan. Trải qua thời gian, các hạng mục đều bị phá hủy, chỉ khu thờ chính còn được giữ tương đối nguyên vẹn, hiện nay mang phong cách kiến trúc thời Hậu Lê đan xen thời Nguyễn. Hiện nay, Đền Mây có kiến trúc theo kiểu chữ Tam, gồm có 3 tòa: Tiền Tế, Trung Từ, Hậu Cung. Sâu bên trong cùng kia là cung cấm - nơi đây đặt ban thờ của tướng quân Phạm Bạch Hổ cùng với mẹ và vợ của ông.
Tương truyền thì đền Mây rất linh thiêng. Đền được xây dựng ngoài đê nên thường bị nước lũ đe dọa. Thấy vậy, dân làng định di dời đền đến vị trí cao hơn nhưng mỗi khi chuẩn bị nguyên vật liệu gỗ, đá tại vị trí mới thì qua 1 đêm thì tất cả các nguyên vật liệu gỗ, đá lại di chuyển về vị trí cũ. Thấy vậy, nhân dân không di chuyển ngôi đền nữa và cùng nhau góp công góp của xây dựng ngôi đền ngày 1 khang trang hơn.
Sự linh thiêng của ngôi đền còn được thể hiện qua bức trâm của Tiến sỹ Chu Mạnh Trinh đề vào năm 1888 được đặt tại trung tâm gian Tiền tế. bức châm thư này có tựa như sau:
Ngô trước Đinh sau việc đã qua
Đằng Châu sự nghiệp đã phai nhòa
Ngoảnh nhìn râu bể ngàn năm đó
Còn lại uy nghiêm 7 chục tòa
Các triều phong tặng đều linh ứng
Nửa dòng sông tạnh nửa dòng mưa
Đến nay chung sức trùng tu miếu
Ban khắc bia đền nhất xứ Nam.
Nội dung của bức châm thư này gắn liền với 1 câu chuyên dân gian do dân tuyền lại. Trong sách “Việt điện u linh” có ghi lại rằng, khi xưa vua lê Long Đĩnh chưa lên ngôi, có thực ấp ở Đằng Châu, thường bơi thuyền dạo chơi. Một hôm thuyền đang trên sông bỗng mây kéo đến tối sầm gió thổi rất mạnh, mưa to sắp đổ xuống, Long Đĩnh tìm nơi trú ẩn, thấy trên bờ sông có đền bèn hỏi dân làng: “Đền thờ thần gì?”, dân làng thưa: “Đây là đền thờ thần Thổ địa.”. Vương hỏi: “Có thiêng không?” thưa rằng “Đây là chỗ dựa của cả một châu, lễ cầu mưa, cầu tạnh đều rất ứng.” Vương bèn nói to lên rằng: “Nếu thần khiến được mưa gió thì nay thử khiến cho bên này sông tạnh, bên kia sông mưa. Thế mới thật là thiêng!”. Nói xong quả nhiên nửa bên kia sông mưa rất to, nửa bên sông này chỉ có gió mát. Long Đĩnh không bị ướt, lấy làm lạ mới sai tu bổ đền thờ.
Lễ hội truyền thống đền Mây tổ chức vào 2 kỳ: từ ngày 10 tháng Giêng ( kỷ niệm ngày sinh của ngài); 16 tháng 11 ( kỷ niệm ngày mất của ngài ).
